Sơ lược về ngòi bút của nhà văn Nam Cao 

Nam Cao viết truyện đầu tay lúc chưa tròn 20 tuổi, viết tác phẩm xuất sắc Chí Phèo lúc 26 tuổi, viết truyện ngắn Sống mòn lúc 29 tuổi và viết bài kí Mức phục vụ kháng chiến (1951). Với 15 năm cầm bút, ông đã kịp để lại một khối lượng tác phẩm không nhỏ và đặc biệt trong những tác phẩm của ông làm nổi bật một phong cách Nam Cao trữ tình, sâu sắc, chua chát, xót xa, dí dỏm mà tinh tế, cao sang mà giản dị, tinh tế mà gần gũi.

Nhà văn Nam Cao là nhà văn hàng đầu chủ nghĩa hiện thực tại Việt Nam
Mục lục bài viết

Ở Nam Cao có cả tài năng, có cả tâm huyết và có cả hoài bão lớn lao của một ước vọng nhân văn cao đẹp mà nhà văn gửi gắm với đời. Sự nghiệp văn học của Nam Cao có thể chia làm 2 thời kỳ rõ nét: Trước cách mạng và sau cách mạng.

Ngay từ những bước đi đầu tiên, Nam Cao là một nhà văn hiện thực có khả năng khái quát những mặt tiêu cực của xã hội cũ. Khi chật vật kiếm sống ở Sài Gòn, ông nhận làm thư ký tại một hiệu dệt rồi bắt đầu viết các truyện ngắn Cảnh cuối cùng và Hai cái xác.

Các truyện ngắn của ông: Nghèo, Đui mù, Những cánh hoa tàn, Một bà hào hiệp với bút danh Thuý Rư được đăng trên "Tiểu thuyết thứ bảy" và báo "Ích hữu". Trở ra Bắc, Nam Cao dạy ở trường tư thục Công Thành trên đường Thuỵ Khuê, Hà Nội. Phát xít Nhật vào Đông Dương, trường bị tịch thu và Nam Cao tiếp tục dạy học. Truyện ngắn Cái chết của con Mực, cùng các bài khác của ông đăng trên báo "Hà Nội Tân văn" với các bút danh Xuân Du, Nguyệt.

Năm 1941, tập truyện đầu tay Đôi lứa xứng đôi (tên trong bản thảo là Chiếc lò gạch cũ) của Nam Cao được Nhà xuất bản Đời mới (Hà Nội) xuất bản được coi như là một hiện tượng văn học thời bấy giờ. Sau này, khi xuất bản Chí Phèo, Nam Cao đã đổi tên là Chí Phèo.

Tác phẩm Chí Phèo - một truyện ngắn xuất sắc được viết từ ngôi làng quê gắn bó với tuổi thơ của ông với những câu chữ cứa vào tận trái tim, viết về thân phận người nông dân bị xã hội thực dân phong kiến áp bức làm biến dạng từ nghèo khổ đến tư sản, đánh dấu bắt đầu sự nghiệp văn học của ông.

Từ tác phẩm để lại dấu ấn đầu tiên ấy cho đến năm 1944 chính là thời kỳ sáng tác sung sức và có hiệu quả nhất trong sự nghiệp viết văn của Nam Cao. Ông đã đạt tới đỉnh cao chất lượng mới: Chất lượng ngôn ngữ nghệ thuật, chất lượng nhận thức xã hội và tư duy văn học.

Trong những trang viết của mình, Nam Cao đã nhìn thấy và chỉ cho người ta thấy cái xã hội đầy áp bức và bất công của Nam Cao – cái xã hội phân chia giai cấp đầy bất công và phi nhân tính ấy đã làm tha hoá và biến dạng, biến chất con người ta như thế nào.

Xét một cách tổng quát, sáng tác của ông trước cách mạng tập trung vào hai đề tài lớn: Người tiểu tư sản nghèo và người nông dân, khai thác trực tiếp từ cuộc Tác phẩm Chí Phèo - một truyện ngắn xuất sắc được viết từ ngôi làng thân thuộc gắn bó với tuổi thơ của ông với những câu chữ cứa vào tận trái tim, viết về số phận người nông dân bị xã hội thực dân phong kiến áp bức làm biến dạng từ nông dân đến địa chủ, đánh dấu bắt đầu sự nghiệp văn học của ông.

Từ tác phẩm để lại dấu ấn này kéo dài mãi đến năm 1944 cũng là thời kỳ sáng tác 

Với hơn hai chục truyện ngắn viết về nông dân (Chí Phèo, Lão Hạc, Một đám cưới, Một bữa no, Lang Rận, Chí Phèo, Mua danh, Tư cách mõ. ..) Nam Cao đã dựng lại bức tranh đời sống nông thôn Việt Nam những năm 1940-1945. Nhà văn đã đi vào cuộc đời của người nghèo khổ, bất hạnh và bị chà đạp nặng nề nhất. Đặc biệt đi sâu vào nỗi đau của con người bị vùi dập, nhân phẩm bị chà đạp và đã thể hiện được phẩm chất tốt đẹp của con người ngay cả khi họ bị chà đạp đến nỗi mất luôn xác người và hồn người.

Cùng với nhà văn hiện thực xuất sắc Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố và Nguyên Hồng thì những tác phẩm của Nam Cao thời kỳ 1941-1944 đã góp phần không ít

Sau Cách mạng Tháng Tám, ngòi bút Nam Cao hoạt động với tư cách ngòi bút của một cán bộ làm báo và làm văn. Ngoài viết văn, ông còn viết tin, làm báo và soạn kịch tuyên truyền, viết hoặc dịch sách giáo khoa các môn địa lý, lịch sử và chính trị. Ông coi đó là "những việc làm bình dị, âm thầm nhưng có ích".

Trong mảng sáng tác sau cách mạng, Nam Cao đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị sâu sắc và tiêu biểu cho văn xuôi kháng chiến thời kỳ đầu. Nhật ký ở rừng (1948) viết trong thời gian ông công tác tại Bắc Kạn, đã bày tỏ tình thương yêu sâu sắc với nhân dân miền núi chân chất mà tha thiết với cách mạng, sự quyết tâm và tin tưởng của những chiến sĩ vô sản chân chính đang cố gắng vươn lên trong đời sống mới.

Truyện ngắn Đôi mắt (1948) là một truyện ngắn thành công nhất của Nam Cao thời kỳ đầu. Chuyện biên giới và bút kí Vài nét ghi qua vùng giải phóng viết trong dịp nhà văn tham gia chiến dịch Cao Bằng-Lạng Sơn (1950) đều là những ký hoạ sống động, tràn đầy không khí lạc quan và có những lời lẽ chân thành, tốt đẹp ca ngợi chiến thắng, tất cả toát lên vẻ đẹp và sức mạnh chiến đấu của bộ đội và đồng bào trong chiến dịch.

Nghệ thuật viết truyện ngắn của Nam Cao có những độc đáo rất phong phú mà đa dạng. Các tác phẩm của ông vừa rất mực hiện thực lại có một ý vị triết lý và một ý nghĩa khái quát sâu xa. Ngòi bút hiện thực tỉnh táo, nghiêm ngặt vừa sắc sảo, vừa đanh thép, lại vừa thấm đẫm trữ tình.

Nhà văn tỏ ra có sở trường khắc hoạ tâm lí nhân vật, nhất là khi đi sâu vào những biểu hiện tâm lí tinh vi và phức tạp. Ngôn ngữ văn xuôi của ông cũng mới mẻ, gần gũi với ngôn ngữ của đời thường, bình dị mà sâu sắc và sinh động nhất là trong ngôn ngữ đối thoại. Có thể nói, về nhiều phương diện, những tác phẩm của Nam Cao là một bước phát triển mới của văn xuôi quốc ngữ Việt Nam.

Đôi nét về tiểu sử nhà văn, liệt sĩ Nam Cao

Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri, sinh ngày 29/10/1915 tại làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Xang, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam (nay là xã Hoà Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam). Cha ông là Trần Hữu Huệ (1890-1967) thợ mộc, làm thuốc, mẹ là Trần Thị Minh chuyên làm vườn, đan lát, dệt vải. Vợ Nam Cao là bà Trần Thị Sen (1916-2002). Nhà văn Nam Cao có 4 người con (3 trai và 1 gái).

Khi còn nhỏ Nam Cao học ở làng và thành phố Nam Định. Học hết phổ thông, ông vô Sài Gòn sinh sống gần ba năm với một người cậu. Từ 1936 Nam Cao bắt đầu viết truyện ngắn trên các báo: Tiểu thuyết thứ bảy, ích hữu. .. Năm 1938 ông dạy học tại một trường ở ngoại ô Hà Nội và viết báo.

Năm 1941, ông dạy học ở Thái Bình. Năm 1942, ông trở về quê và bắt đầu viết báo. Năm 1943, Nam Cao gia nhập Hội Văn hoá Cứu quốc và tham gia phong trào Việt Minh ở địa phương. Cách mạng Tháng Tám (1945), ông tham gia kháng chiến cướp chính quyền ở phủ Lý Nhân, rồi được bầu làm Chủ tịch Uỷ ban nhân dân.

Năm 1946, ông ra Hà Nội tiếp tục hoạt động trong Hội Văn hoá Cứu quốc và là Thư ký toà soạn tạp chí Tiên Phong của Hội. Cùng năm ấy, ông tham gia đoàn quân Nam tiến với vai trò nhà báo và hoạt động ở Nam Trung Bộ một thời gian. Sau đó ông trở về Hà Nội làm việc ở Ty Văn hoá Hà Nam.

Mùa thu năm 1947, Nam Cao lên chiến khu Việt Bắc, làm phóng viên báo Cứu quốc và làm thư ký toà soạn báo Cứu quốc Việt Bắc. Năm 1948, Nam Cao gia nhập Đảng cộng sản Đông Dương. Năm 1950, ông nhận công tác ở tạp chí Văn Nghệ (trực thuộc Hội Văn nghệ Việt Nam) và là uỷ viên Tiểu ban Văn nghệ Trung - ương.

Ngày 30/11/1951, trên đường đi công tác vào vùng địch hậu liên khu III, Nam Cao và đoàn cán bộ thuế đã bị địch phục kích và đã anh dũng hi sinh. Ông ngã xuống khi trang bản thảo cuối cùng của tác phẩm "Định mức" vẫn chưa ráo mực.

Ông đã được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học và Nghệ thuật (đợt 1, 1996) đối với các tác phẩm: Nhật ký ở rừng, Đôi mắt (truyện ngắn), Sống mòn (tiểu thuyết), Truyện ngắn chọn lọc (xuất bản năm 1964), Chí Phèo (truyện ngắn), Nửa đêm (truyện ngắn).

Mr.Phong